Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2015

CÁC LOẠI HÓA CHẤT DẪN TRUYỀN THẦN KINH

CÁC LOẠI HÓA CHẤT DẪN TRUYỀN THẦN KINH



Ngày nay,các phát hiện gần đây cho rằng, não bộ của con người sử dụng khoảng 100 chất dẫn truyền thần kinh để điều khiển các hành vi đáp ứng phức tạp và cao cấp của chúng ta. Mặc dù, hiện nay chúng ta chỉ có thể biết chắc chắn được khoảng 50 chất hoạt động như là chất dẫn truyền thần kinh. Chính vì vậy, nhiều nhà khoa học làm việc trong lĩnh vực này đang cố gắng nghiên cứu với mong muốn tìm ra nhiều hơn số lượng các hóa chất dẫn truyền thần kinh.
Để xác định được đâu là các hóa chất dẫn truyền thần kinh tồn tại trong neuron giữa hàng ngàn các phân tử hóa học khác thì các nhà nghiên cứu  đã đưa ra 4 tiêu chuẩn được áp dụng có hệ thống để định dạng các hóa chất dẫn truyền thần kinh. 4 tiêu chuẩn đó được cụ thể như sau:
1.      Hóa chất phải được tổng hợp ở trong neuron hoặc nếu không thì phải hiện diện ở trong đó.
2.      Khi neuron được hoạt hóa, hóa chất này phải được phóng thích và tạo ra một đáp ứng ở một số tế bào đích.
3.      Đáp ứng tương tự phải được thấy khi hóa chất được đặt vào tế bào đích trong thực nghiệm.
4.      Phải có một cơ chế để lấy đi hóa chất này từ vị trí hoạt động của nó sau khi công việc đã được thực hiện.
Một hóa chất người ta nghi ngờ là hóa chất dẫn truyền thần kinh nhưng không hội đủ các tiêu chuẩn trên thì được gọi là chất dẫn truyền giả định.
Dựa vào thành phần của chúng, người ta phân loại hóa chất dẫn truyền thần kinh thành 3 nhóm.
Nhóm 1: Các hóa chất dẫn truyền có phân tử nhỏ bao gồm
 Acetylcholine, Dopamine, Norepinephrine, Epinephrine, Serotonin, Glutamate, Gama- Aminnobutyric ( GABA), Glycine và Histamine.
Nhóm 2: Các hóa chất dẫn truyền dạng peptide bao gồm
Opioids: Enkephaline, Dynorphin; Neurohypophyseals: Vasopressin, Oxytocin; Secretines: Gastric inhibitory peptide, Growth- hormone- releasing peptide; Insulins: Insulin, Insulin growth factors; Gastrins: Gastrin, cholescy stokinin; Somatostatins: Pancreatic polypeptides
Nhóm 3: Các hóa chất dẫn truyền dạng gas
Bao gồm Nitric oxide ( NO) và Carbon monoxide ( CO)
Đại đa số các trường hợp, neuron và chất dẫn truyền chủ yếu của nó có liên quan đến một vài chức năng hành vi nào đó. Các chất dẫn truyền trong hệ thần kinh trung ương có chức năng tổng quát hơn, giúp các sinh vật thực hiện được các nhiệm vụ thường ngày, các chất này là các chất có phân tử nhỏ: Acetylcholine, Dopamine, Norepinephrine, Serotonin. Các neuron chứa các chất dẫn truyền này được gọi là hệ thống hoạt hóa đi lên ( Ascending activating systems).
Có 4 hệ thống hoạt hóa đi lên. Đó là: hệ Cholinergic, hệ Adrenergic, hệ Dopaminergic và hệ Serotonergic. Bốn hệ thống hoạt hóa đi lên này được tổ chức giống như nhau đó là các thân tế bào nhóm lại với nhau trong chỉ ở một số nhân nằm ở thân não hay gần thân não. Ngược lại, các sợi trục của chúng được phân bố rộng rãi đến những vùng khác nhau của não trước, thân não và tủy sống.
Hệ Cholinergic ( Acetylcholine): Acetylcholine là hóa chất dẫn truyền thần kinh đầu tiên được xác định ở hệ thần kinh trung ương. Tất cả các sợi trục của neuron vận động xuất phát từ tủy sống đều chứa Acetylcholine. Hoạt động để duy trì các mẫu thức tỉnh trong điện não của vỏ não. Đóng vai trò trong trí nhớ bằng cách duy trì khả năng kích thích của neuron. Sự chết của các neuron có chứa Acetylcholine được nghĩ như có liên quan đến bệnh Alzheimer.
Hệ Adrenergic ( Noradrenaline): Hoạt động để duy trì trương lực cảm xúc. Giảm lượng Adrenaline được cho là có liên quan đến trầm cảm, ngược lại, tăng Adrenaline được cho là có liên quan đến hưng cảm.
Hệ Dopaminergic (Dopamine): Hoạt động để duy trì các hành vi vận động bình thường. Mất Dopamine liên quan đến bệnh Parkinson, các cơ sẽ trở nên cứng đờ, vận động khó khăn. Gia tăng Dopamine có thể liên quan tới tâm thần phân liệt.
Hệ Serotonergic ( Serotonin): Hoạt động để duy trì các mẫu thức tỉnh của hoạt động điện não. Gia tăng lượng Serotonin có thể liên quan đến rối loạn Tic và tâm thần phân liệt. Giảm Serotonin liên quan đến trầm cảm.

Tóm lại, các neuron truyền thông với nhau bằng cách phóng thích các hóa chất ở đầu tận cùng của chúng. Một đầu tận cùng tạo thành một khớp nối ( Synapse) , bao gồm một màng tiền khớp ( Presynapse) kế là một khoảng không và màng hậu khớp (Postsynapse). Một hóa chất được phóng thích bởi đầu tận cùng thần kinh đi qua khoảng không giữa khớp thần kinh và hoạt hóa màng hậu khớp. Trên màng hậu khớp, các hóa chất hoạt động trên các thụ thể nhằm hoạt hóa hay ức chế hoạt động điện của các neuron này hoặc nhằm thay đổi chức năng của các neuron theo cách khác. Có 4 bước chung trong hoạt động của chất dẫn truyền thần kinh: tổng hợp, phóng thích, hoạt động và tái hấp thu các chất dẫn truyền thần kinh. Các thuốc tác động lên hệ thần kinh có thể ảnh hưởng tới các hoạt động sinh hóa. Vì thế, hiểu được hoạt động của các chất dẫn truyền thần kinh có thể là nguồn nhận định đúng đắn không chỉ là hành vi bình thường mà còn về những cơ chế mà thuốc có thể ảnh hưởng lên hành vi. Cũng vậy, nhiều bệnh lý và các tình trạng của hệ thần kinh có thể có nền tảng từ sự bất thường chức năng của hoá chất dẫn truyền thần kinh. Ví dụ, các hệ thống Acetylcholine, dopamine, norepinephrine và serotonin có vai trò trong các bệnh lý khác nhau của não bộ. Khi hiểu được chức năng của các chất dẫn truyền thần kinh thì việc điều trị chúng cũng trở nên dễ dàng hơn.

Tổng hợp

Thông tin bài đăng này được sử dụng công khai với mục đích tìm hiểu, trao đổi học thuật và không được thương mại hóa. Khi chia sẻ, trích dẫn nội dung bài đăng này xin vui lòng ghi rõ nguồn theo đường dẫn:http://khuvuontamly.blogspot.com/2015/08/cac-loai-hoa-chat-dan-truyen-than-kinh.html Mọi trường hợp khác xin liên hệ Khu Vườn Tâm Lý. Xin cảm ơn!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét