TÌNH YÊU ĐÍCH THỰC- 5 DẤU HIỆU NHẬN DIỆN
Đời sống tinh thần, tâm trí của con người là vô cùng phong phú và đa dạng. Nó cũng giống như những bông hoa, ngọn cỏ trong một khu vườn đầy màu sắc. Nó từng chìm đắm trong quá khứ, đang sống trong hiện tại và sẽ có tương lai. Chính vì thế, nó rất sống động, luôn luôn vận hành và biến chuyển. Hơn hết, việc khám phá những điều kì diệu trong khu vườn bí mật đó luôn là một khao khát của rất nhiều người...
Nhãn
Bài học từ cuộc sống
(3)
Giải trí
(4)
Lịch sử Tâm lý học
(3)
Tâm bệnh học
(1)
Tâm bệnh học phát triển
(1)
Tâm lý học giới tính
(2)
Tâm lý học Hành vi
(5)
Tâm lý học nhân cách
(1)
Tâm lý học Pháp lý
(1)
Tâm lý học thường thức
(1)
Tâm lý học Tổ chức- Nhân sự
(1)
Tâm lý học xã hội
(3)
Tâm lý học y học
(6)
Tâm lý lâm sàng
(6)
Tâm lý thần kinh
(6)
Thứ Sáu, 8 tháng 4, 2016
Thứ Bảy, 9 tháng 1, 2016
TÌNH YÊU ĐÍCH THỰC- 5 DẤU HIỆU NHẬN DIỆN
Bí ẩn, nỗi sợ, phiêu lưu, ham muốn, cảm giác tồn tại ngập tràn: 5 tiêu chí giúp nhận ra tình yêu đích thực
“Thế tại sao cậu còn ở lại với anh ta (cô ta)?” Đã bao nhiêu lần chúng ta đặt ra câu hỏi đó với bạn bè mình, người đang bị ngập lún trong mối quan hệ đau khổ? Đã bao nhiêu lần chúng ta hỏi điều gì đẩy họ vào việc duy trì dai dẳng mối quan hệ không thoải mãn? Đó chắc chắn không phải tình yêu. Vậy tình yêu là gì? Có phải là thứ tình cảm khiến chúng ta luôn luôn hạnh phúc?
Chắc chắn là không rồi, trường phái phân tâm nói với chúng ta như vậy. Tình yêu, cái là đích thực, không gắn với sự thanh thản. Sau những giây phút hợp nhất khởi đầu, ngược với những gì người ta tưởng tượng, tình yêu không ở trong yên ổn: nó khiến người ta như ở trên con thuyền dập dềnh sóng nước, nó dày vò người ta, nó kết nối chúng ta một cách bí ẩn với người khác trong tình huống đầy tính sử thi vượt thoát khỏi mọi lý lẽ. Khám phá một số dấu hiệu của tình yêu đích thực.
1. Nhận thấy người khác thật bí ẩn
Tình yêu là bí ẩn đối với những người sống nó, là bí mật cho những người nhìn vào nó. Chúng ta nhận biết, nhưng chúng ta không hiểu. Tại sao lại thế? Bởi vì điều gắn bó chúng ta với người khác là không thể giải thích nổi. Yêu thực sự, đó là đi về phía ai đó, không chỉ vì hình ảnh của họ (vẻ đẹp của họ, việc họ giống với điều này hay điều kia), cũng không phải vì cái mà họ biểu tượng cho (người cha, người mẹ, quyền lực, tiền bạc) mà vì điều ẩn giấu trong họ. Bí ẩn mà chúng ta không gọi ra được, và cũng chính là điều gặp gỡ (được) cái bí mất trong chính chúng ta: sự thiếu vắng mà ta cảm nhận từ thơ ấu, một sự chịu đựng riêng tư, một thứ gì đó không thể định nghĩa được. “Tình yêu được gửi đến cho phần xa lạ trong bên trong ta”, nhà phân tâm Patrick Lambouley giải thích.
Có một điều trống rỗng nào đó bên trong chúng ta, có thể là nguyên nhân của sự đánh mất mình, đẩy mình vào hủy hoại chính mình. Vì vậy, tình yêu là sự gặp gỡ của 2 sự tổn thương, của 2 điểm yếu, là sự chia sẻ với ai đó về điều thiếu thốn căn bản của chúng ta, và về điều mà chúng ta có thể không bao giờ nói ra”. Tình yêu đích thực, đó không phải là “cho tôi xem em/anh có gì” hay “đưa cho tôi cái em/anh có để bù vào cái tôi thiếu”, mà là “tôi yêu cách mà em/anh cố gắng chữa lành, vết sẹo của em khiến tôi cảm động”
Sẽ chẳng có gì để nói với giả thiết “một nửa quả cam”, biến thể của Bữa tiệc của Platon (LGF, “sách bỏ túi”, 2008) cho rằng chúng ta không là một chỉnh thể vì chúng ta bị chia làm hai. Tình yêu khiến chúng ta trở nên “một” và hạnh phúc! “Đó là nguyên nhân của sự tan vỡ của bao nhiêu cặp đôi, Patrick Lambouley quan sát. Khi nhiều người nhận ra rằng họ chịu đựng sự không hài lòng, họ cho rằng đó là vì họ chưa tìm thấy một nửa đúng của họ, họ phải thay đổi.” Tình yêu đích thực, đó là nói với người khác rằng: “Em/anh khiến tôi hứng thú/quan tâm”
2. Nỗi sợ mất người khác
Yêu, khi đó có nỗi sợ. Luôn như vậy. Freud, trong cuốn Văn minh và bất mãn từ nó, đã giải thích điều đó như sau: chúng ta trở nên phụ thuộc bởi vì luôn cần có người khác nâng đỡ mình trong sự tồn tại. Do đó có nỗi sợ mất người khác. Monique Schneuder, triết gia và nhà phân tâm giải thích: “Tình yêu dẫn tới rủi ro. Nó gây ra sự choáng váng, đôi khi là sự chối bỏ: người ta làm tan vỡ tình yêu cũng bởi vì người ta quá sợ hãi nó, phá hủy nó bằng cách cố gắng tự tin, hạ thấp sự quan trọng của nó bằng cách gắn nó với một hoạt động phụ thuộc vào người ta. Tất cả những điều đó là để tự bảo vệ mình khỏi quyền lực quá lớn của người khác đối với chúng ta (trong tình yêu)”. Mặc dù vậy, Freud đã ghi chú rằng, Éros và Thanatos đi theo cặp. Tôi yêu em/anh, tôi phá hủy em/anh. Éros, đó là ham muốn gắn kết chúng ta trong luyến ái. Thanatos, đó là xung năng chết đẩy chúng ta vào sự chia tách mối gắn kết đó, để cái tôi của chúng ta còn lại trong toàn năng (toàn quyền). Tình yêu đẩy chúng ta ra khỏi bản thân, cái tôi chiến đấu lại điều đó.
Tình yêu đích thực không phải là một bản hợp đồng thương mại: đó là một thứ cảm xúc mạnh bạo khiến cả 2 bên ở trong nguy hiểm. Không bao giờ được quên rằng, khi người ta nghi ngờ, dường như đó là khi người kia không còn yêu họ nữa. “Khi ai đó tự bảo vệ, điều đó không có nghĩa là họ không trong tình yêu. Họ có thể chỉ là nghi ngờ việc cảm nhận về người yêu có còn tay trong tay.” Monique Schneider giải thích.
3. Chấp nhận gắn bó với người khác trong những điều xa lạ
Chưa điều gì được viết ra. Sự đam mê lãng mạn bùng cháy rồi tàn lụi vẫn còn là bí mật. Tình yêu không đi theo một cách hệ thống con đường với dốc đi xuống. Tình yêu có thể vay mượn con đường ngược lại. Chúng ta phải chấp nhận rằng không thể làm chủ được những tình cảm của mình. “Người ta không đi vào một vũ trụ có ý chí hay có trật tự, Monique Schneider nói. Người ta có thể trải qua những giai đoạn tương phản. Và tất nhiên là việc đi qua những khoảnh khắc hạnh phúc mê li khiến người ta sau đó có thể rơi xuống từ trên cao... Để yêu thực sự, phải tin rằng tình yêu là điều kỳ diệu. Freud nói đến sự chờ đợi. Phải duy trì ngon lửa, không đòi hỏi sự thỏa mãn ngay lập tức...” Chấp nhận điều còn chưa biết, hãy kiên nhẫn...
4. Thể hiện ham muốn
Không nghi ngờ gì: yêu, đó là muốn người khác. Jean-Jacques Moscovitz khẳng định: “Làm tình giúp cho việc yêu. Không có sự trao đổi về mặt cơ thể, điều gì đó trong tình yêu sẽ không diễn ra. Tình yêu đòi hỏi sự hài lòng (mãn nguyện) bởi vì có ham muốn ở đó. Và những người yêu còn biết thêm tới những lạc thú. Sự khác biệt về giới tính được phá bỏ trong quan hệ. Người ta không còn biết ai là ai. Cả hai hòa quyện vào nhau. Không còn sự đầu tư vào bộ phận cơ thể. Người ta làm nên cơ thể. Đó là lạc thú khiến người ta choáng ngợp.” Không có tình yêu, sự hài lòng (mãn nguyện) chỉ là một phương tiện để giải tỏa sự căng thẳng, trong khi để tận hưởng cảm xúc trào như sóng biển, khiến rung động, trải nghiệm rõ và mạnh, cần phải yêu thực sự.
Vậy việc giảm hảm muốn có nghĩa là giảm tình yêu? Không hoàn toàn vậy: “Có những thời điểm hạnh phúc, người ta hạnh phúc khi người khác như họ là, rằng người ta đơn giản thỏa mãn về việc đang tồn tại.” Monique Schneider nói. Ngoài những khoảnh khắc thăng hoa này, phụ nữ thường tách rời tình yêu với ham muốn. “Không phải là ít tình cảm hơn, mà ngược lại, giống như là việc cho đi qua nhiều khiến họ biến mất. Có liên quan nữa là còn điều gì đó chưa giải tỏa ở đứa trẻ trong quá khứ, tình yêu lý tưởng có liên quan tới người cha lý tưởng. Họ quay trở lại là những đứa trẻ gái: mối quan hệ khiến họ có cảm giác loạn luân. Và có lẽ họ muốn tự bảo vệ mình khỏi nỗi sợ thấy mình tan chảy trong mối quan hệ thể xác.”
Những người phụ nữ này trốn trong tình yêu mang tính tôn thờ, thiếu tự tin trong quan hệ trai gái. Họ có thể vượt qua bằng một kiểu quan hệ vật lý khác, cái ôm siết: che phủ người khác, cảm giác người khác ở bên trong. Và khi muốn người khác, ham muốn theo sau đó. Không có gì là cố định. Mọi thứ đến và đi.
5. Cảm giác về tồn tại
“Được yêu, đó là cảm giác xác thực sự tồn tại”, Sartre đã nói căn bản như vậy. Tình yêu đích thực, đó là trải nghiệm về sự hợp thức hóa thế giới, ảo tưởng rằng tình yêu của chúng ta là duy nhất. Người kia là hóa thân lý tưởng, và chúng ta tồn tại nhờ vào ánh nhìn của người kia. Tình yêu mang lại cho chúng ta trạng thái của một đứa trẻ tin răng nó toàn năng, tin rằng nếu nó không tồn tại, thế giới hẳn thiếu đi điều gì đó. Người này khiến người kia cảm nhận vậy.
...Chúng ta đầu tư vào người khác. Chúng ta gán cho họ sự nhận diện căn bản: chúng ta đề cao họ, cảm thấy họ giá trị, tin tưởng họ là không bao giờ có thể thay thế. Chúng ta tạo ra việc tìm thấy, phát hiện ra kho báu. Chúng ta không còn cô đơn nữa. Họ cũng mang lại cho chúng ta thế giới của họ, mở ra những chân trời khác, những cảm xúc mà chúng ta đã không nhận ra trước đây. Chúng ta được “đánh thức”. Chúng ta có cảm giác yên ổn bởi vì họ đã khám phá ra chúng ta. “Tình yêu thực sự nhấn mạnh cảm giác của chúng ta về tồn tại”, Monique Schneider kết luận.
Nguồn: http://www.psychologies.com/…/Amour-vrai-5-signes-qui-ne-tr…Bản dịch: Ngô Thị Thu Huyềnwww.facebook.com/ngohuyenpsy/posts/10208292155088957
Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2015
NHÀ TRỊ LIỆU CÓ ĐƯỢC PHÉP KHÓC?
Bạn đang trị liệu cho một thân chủ vừa tiết lộ cô ta bị lạm dụng rất thậm tệ khi còn nhỏ. Thân chủ của bạn bắt đầu nức nở - và mắt bạn cũng dần ngấn lệ.
Liệu đó có phải là một phản ứng phù hợp không? Bạn có cần phải che giấu, ngăn cản dòng nước mắt hay cứ để mặc chúng? Nếu bạn khóc, điều đó sẽ tác động tới thân chủ như thế nào?
Nhiều chương trình đào tạo cao học không hề nhắc tới nước mắt trong tiến trình trị liệu, cả trong lớp học hay cả trong quá trình giám sát. Kết quả là nhiều người tin rằng nhà trị liệu cần phải luôn mạnh mẽ và trung lập, và nước mắt là dấu hiệu của sự thiếu chuyên nghiệp, đồng thời làm giảm vai trò được quy định nghiêm ngặt của nhà chuyên môn.
Tuy vậy, một nghiên cứu cho thấy nước mắt vẫn rất hay xuất hiện nơi các nhà trị liệu.Ví dụ, nghiên cứu được thực hiện năm 2013 do TS. Amy C. Blume-Marcovici, TS. Ronald A. Stolberg, và TS. Mojgan Khademi thuộc ĐH Quốc tế Alliant International thực hiện, đăng tải trên tạp chí Psychotherapy cho thấy 72% các nhà tâm lý và các thực tập sinh đã từng khóc với thân chủ, 30% từng khóc ít nhất một lần 4 tuần trước khi khảo sát.
Vậy bạn nhìn nhận điều này như thế nào? Vai trò của nước mắt nơi nhà trị liệu là gì?
Dấu hiệu của tính nhân văn
TS. Nadine Kaslow cho biết, khi bà còn là thực tập sinh, bà chưa bao giờ được nghe đề cập đến việc khóc với thân chủ.
“Có một thông điệp ẩn giấu cho rằng bạn không nên làm điều đó, một cách nào đó, nó tượng trưng cho việc bạn đang gặp phải vấn đề về ranh giới làm việc” Kaslow, giáo sư và tâm lý gia tại ĐH Y Emory, cho biết. Đặc biệt là các nhà trị liệu nữ thường tin rằng nếu họ khóc, nước mắt sẽ cho thấy “bạn không đủ vững vàng để làm công việc này.”
Theo Kaslow, những thông điệp này đến nay vẫn không thay đổi bao nhiêu. Bà vẫn tin rằng hạn chế nước mắt – không để bản thân nức nở hết cỡ - có thể là một nhân tố tích cực và tự nhiên trong mối quan hệ trị liệu.
“Nhiều người trong chúng ta, những người hay nhạy cảm, nhân ái và thường dễ cảm nhận cảm xúc của bản thân, đôi khi hay nghẹn ngào và ngấn lệ trước thân chủ” “Đó là một phản ứng nhân văn và liên nhân vị rất bình thường.”
Tất cả các nhà tâm lý đều làm việc với các vấn đề về cảm xúc của thân chủ, tuy nhiên một số lại thường hay phải nghe các câu chuyện dễ gây xúc động. Trong số đó có TS. Sarah E. Dunn, Giám đốc lâm sàng và giám sát tâm lý tại Dự án Grady Nia tại Bệnh viện Grady, Atlanta, dự án hỗ trợ các phụ nữ là nạn nhân của bạo hành gia đình.
Dunn cho biết các thực tập sinh đôi khi hay nghẹn ngào trước những câu chuyện đong đầy xúc cảm mà các thân chủ chia sẻ - “gần giống như là sang chấn do thấu cảm.” Điều này khiến một vài sinh viên băn khoăn và tìm đến gặp bà.
Dunn cho biết, “Họ cảm thấy hoảng loạn: Họ có nên đi ra khỏi phòng? Đi vào nhà vệ sinh và cô gắng trấn tĩnh lại? Hay thân chủ có thấy cũng không sao?”
Qua nhiều năm, bà nhận ra rằng “việc nhìn nhận nhà trị liệu như một con người và có thể hiện cảm xúc có thể giúp thân chủ mở lòng thêm một ít.”
Thân chủ nghĩ gì?
Nghiên cứu tìm hiểu suy nghĩ của thân chủ về vấn đề này khá khan hiếm.
Trong một nghiên cứu vào năm 2015 trên Psychotherapy, các nhà nghiên cứu Áshley Treat, Jonathan Kelly và Glenn Waller đã khảo sát 188 thân chủ có rối loạn ăn uống và nhận thấy 57% trong số đó từng chứng kiến nhà trị liệu rơi nước mắt. Đa số đều nhìn nhận điều này một cách tích cực, tuy nhiên điều này không tự nhiên mà có: nó phụ thuộc vào cách họ đánh giá nhà trị liệu.
Nếu họ cho rằng nhà trị liệu “hành xử tốt” (được các nhà nghiên cứu định nghĩa là thể hiện sự vui vẻ, chắc chắn và ổn định), thân chủ sẽ dễ nhận xét nước mắt là tích cực hơn và thường sẽ muốn tiếp tục trị liệu. Nhưng nếu họ cảm thấy nhà trị liệu “hành xử tiêu cực” (lo âu, buồn chán hay tức giận), thân chủ sẽ cảm thấy kém tích cực hơn với nước mắt và tiến trình trị liệu.
Kiểu khóc cũng quan trọng. Đa phần hay mô tả nhà trị liệu chỉ mới “chớm” nước mắt. Một số thì mô tả nhà trị liệu khóc nhiều nhưng vẫn tiếp tục làm việc. Một số ít hơn thì mô tả nhà chuyên môn khóc nhiều đến độ buổi làm việc phải tạm ngưng. Thân chủ thường đánh giá mức độ khóc càng lớn là càng tiêu cực.
Các nhà nghiên cứu kết luận: “Nước mắt nhà trị liệu không thể được nhìn nhận là tích cực hay tiêu cực hoàn toàn – nó phụ thuộc vào cách thân chủ nhìn nhận nhà trị liệu trong vị thế một nhân vị ra sao”
Trong một luận án sắp công bố của tại ĐH Đông London, Alice Watso đã nghiên cứu về phản ứng của thân chủ trước việc nhà trị liệu khóc. Cô có động lực làm đề tài này sau khi chứng kiến hai nhà tham vấn khóc trước mặt mình – và cô đã có hai phản ứng rất khác nhau.
Một trường hợp khiến cô cảm thấy gần gũi hơn với nhà trị liệu, trong khi trường hợp còn lại có tác dụng hoàn toàn trái ngược, nó khiến cô quyết định kết thúc tiến trình trị liệu vốn dĩ đã chẳng êm đẹp gì.
Trong đề án nghiên cứu của mình, Watson phỏng vấn tám người tại Vương Quốc Anh, từ 25 đến 56 tuổi, từng chứng kiến nhà trị liệu khóc trong tiến trình làm việc. Nghiên cứu định tính, tìm hiểu xem điều gì là hiệu quả và không hiệu quả, cho thấy kì vọng của thân chủ về trị liệu và nhà chuyên môn tác động đến nhận thức của họ. Một số sẽ phản ứng tiêu cực, xem nước mắt là điểm trừ cho hình ảnh nhà trị liệu trong mắt họ, đồng thời làm lu mờ vai trò và ranh giới một cách tiêu cực. Số khác lại xem nước mắt nhà trị liệu là sự nhìn nhận những nỗi đau mà thân chủ gặp phải.
Theo Watson, bất kể thân chủ nhìn nhận tích cực hay tiêu cực, tất cả những người tham gia đều cho rằng nước mắt của nhà trị liệu là “thời điểm quan trọng và ảnh hưởng tới mọi việc diễn tiến về sau trong tương quan trị liệu.”
Bạn nên nói gì khi rơi nước mắt?
Nếu bạn rơi lệ trước mặt thân chủ, bạn có nên thừa nhận điều đó? Hay tiếp tục làm việc như chưa có chuyện gì xảy ra?
Kaslow cho rằng điều này còn phụ thuộc vào tình huống và mối quan hệ. Đôi khi tốt nhất là không nói gì cả.
“Nước mắt sẻ chia trong một tình huống đau buồn đôi khi không cần lời giải thích nào cả.” Nhưng nếu thân chủ phản ứng bằng cách cố gắng quan tâm đến nhà trị liệu thì “đó mới là lúc cần lên tiếng.”
Nếu trong trường hợp thân chủ không khóc mà chỉ có nhà trị liệu khóc, Kaslow đề nghị ta nên nói một trong những điều sáu đây: “Tôi nghĩ tôi khóc là vì …” hay “Bạn phản ứng như thế nào khi tôi khóc?” Những điều trên có thể được trao đổi ngay lặp tức hay sau khi buổi làm viêc kết thúc, thậm chí là trong buổi làm việc tiếp theo.
Khi nào nước mắt là không thích hợp
Khóc có thể có nhiều định nghĩa, từ một đôi mắt long lanh đến một dòng lệ nhẹ nhàng lăn trên má cho tới tiếng than van nức nở. Các nhà trị liệu thường cảm thấy tiếc nuối vì đã “khóc lớn, khóc nhiều hay khóc vì những việc liên quan đến tình trạng bản thân”, Blume-Marcovici cho biết.
Một điểm nguy hiểm nữa cần lưu ý: khóc bất kể khi nào bạn thấy người khác có vấn đề.
Nếu cứ mỗi lần thân chủ đề cập đến một vấn đề nhất định mà nhà trị liệu đều khóc, “có lẽ thật sự là bạn chưa giải quyết được vấn đề đó nơi bản thân”, Kaslow chia sẻ. Nếu điều này xảy ra, bản thân bạn có lẽ cần được nhận sự hỗ trợ và bạn nên bàn luận điều này với giám sát của bạn.
Theo Blume-Marcovici, những yếu tố dễ “gây” nước mắt cho nhà trị liệu bao gồm đau buồn, mất mát hay sang chấn. Nhà trị liệu vừa trải nghiệm mất mát hay những sự kiện gây căng thẳng nghiêm trọng trong cuộc sống có thể quay lại làm việc quá sớm – họ sẽ dễ xúc động khi thân chủ chia sẻ những trải nghiệm tương tự những điều họ vừa trải qua.
Bà cho rằng nhà trị liệu cần biết cách đánh giá mức độ sẵn sàng của bản thân trước khi quay trở lại làm việc. Tất nhiên sẽ rất khó để biết được chính xác khi nào – hay liệu có hay không – việc nước mắt sẽ xuất hiện. Tuy vậy, thay vì mù mờ suốt buổi làm việc, nhà trị liệu cần phải nhận biết được rằng phản ứng rất con người này hoàn toàn có thể diễn ra và cần có ý tưởng về việc mình cần phải làm gì khi việc này xảy đến. Một cách lý tưởng nhất, Kaslow và Blume-Marcovici cho rằng các chương trình đào tạo tâm lý cần đề cập đến vấn đề này để đem lại câu trả lời thoả đáng nhất.
Nguồn: Hành lang tâm lý: http://hanhlangtamly.blogspot.com/…/nha-tri-lieu-co-duoc-ph…
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)


















