Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2015

BỎ RƠI THÂN CHỦ

BỎ RƠI THÂN CHỦ


Lần đầu chúng tôi gặp nhau, John là cậu bé 7 tuổi, mang trên mình những vấn đề vượt quá sức chịu đựng của một đứa trẻ. Trong những năm đầu đời, em phải chứng kiến cảnh cha mình ngập chìm trong men rượu, đi kèm là những tiếng chửi bới, đồ đạc bị đập phá và những hành vi bạo lực ông trút lên đầu vợ con mình. Không những thế, mẹ của John cũng vật lộn với trầm cảm và nghiện ngập. Khi lên 5, Dịch vụ Bảo vệ Trẻ em của Bang đã đưa em ra khỏi nhà và sắp xếp để em được nhận nuôi tạm thời. Kể từ đó, cha của em biến mất hoàn toàn, bặt vô âm tín. Mẹ của em bị tòa án buộc phải đi điều trị lạm dụng chất và sau đó được phép gặp John qua những lần thăm viếng có giám sát. Cuối cùng, bà cũng giành lại được quyền nuôi con, ngay trước khi tôi và John bắt đầu làm việc với nhau.

Chính quyền yêu cầu John phải được trị liệu tâm lý, mẹ đưa em đến một phòng khám tâm thần ngoại trú, nơi tôi vừa mới vào làm việc sau khi kết thúc cao học. Những buổi làm việc hàng tuần, ban đầu, mặc cho tôi khuyến khích, John chỉ ngồi im lặng, chẳng dám đi lại trong phòng hay đụng chạm vào đồ vật chi cả. Em đã học cách phản ứng này từ quá khứ. Bất kỳ mối quan hệ nào cũng cần có thời gian để niềm tin lớn lên, đặc biệt là khi tất cả những tương quan trước đây của bạn đều kết thúc một cách thảm họa. Những tuần, những tháng đầu tiên, John chỉ yên lặng dán mắt vào những món đồ chơi tôi để trên kệ hay quan sát tôi tô màu một mình, chờ đợi em cùng tham gia.

Nhưng điều gì đó vẫn ngấm ngầm xảy ra, ngay cả trong những ngày đầu lặng lẽ đó: John dần có cảm giác tôi là một người “dễ đoán”. Khả năng dự đoán được phản ứng (Predictability) – một yếu tố rất cần thiết giúp tạo cảm giác đủ an toàn để tương tác – không chỉ thể hiện trong hành vi của tôi mà còn trong không gian thực tế. Tôi nhận thấy John thận trọng xem xét khắp cả phòng trị liệu. Em trở nên lo lắng nếu một cuốn sách hay một món đồ bị lệch khỏi vị trí ban đầu, khó chịu nếu một bức tranh bị treo xộc xệch  hay nôn nao nếu tấm thảm lót sàn không thẳng góc. Cuối cùng, John mới có đủ tự tin để hỏi tôi liệu em có thể chỉnh sửa bất cứ thứ gì có vẻ mất trật tự và thậm chí dần dà, liệu em có thể sắp xếp lại mọi thứ theo ý em thích hay không.

John từ tốn cho tôi thấy em là người như thế nào. Em vẽ những bức tranh có em và gia đình – những hình ảnh đáng sợ về quái vật cùng các thế lực nguy hiểm khác bao phủ lấy em và mẹ. Chúng tôi cùng chơi ngôi nhà búp bê và không quá ngạc nhiên khi kẻ xấu xuất hiện, đột nhập vào nhà, đánh đập hay bắt cóc trẻ con và cuối cùng, phải cầu viện đến cảnh sát. Dẫu sao, những trò chơi này có thể giúp chuyển hóa những kinh nghiệm làm nạn nhân một cách thụ động thành những kinh nghiệm giúp can thiệp hay thậm chí, phát huy khả năng tự chủ. Ít nhất khi chơi, John có thể là người ra quyết định; và lần này, “cứu hộ” đã tới. Việc cuối cùng có một người chứng kiến những sang chấn của bạn cũng có những giá trị trị liệu nhất định. Sau một năm làm việc, mẹ và giáo viên của John đều cho biết em có vẻ tự tin và ít sợ sệt hơn trước, thậm chí em còn bắt đầu có vài người bạn.

Bên cạnh buồn bã và âu lo, John còn mang trong mình rất nhiều giận dữ mà em luôn cố gắng kìm nén. Giận dữ rất nguy hiểm. Như trong trường hợp cha của em, John đã chứng kiến tức giận dẫn tới phá hủy và bỏ rơi, và khi những điều này lẫn vào trong hành vi của em, mẹ đã phạt nặng và chối từ em, không nói gì với em nhiều ngày liền. Trong năm thứ hai cùng làm việc với nhau, John bắt đầu có những bước chập chững đi đến việc thể hiện sự giận dữ, em nói về những bạn bè và giáo viên khiến em bực tức, đồng thời cho tôi biết những khi em không hài lòng về một hành động nào đó của tôi.
Một ngày, không nói với tôi lời nào, em tự động mở tủ lấy giấy và bắt đầu vẽ nguệch ngoạc một cái bia phóng phi tiêu. Trên đó, em vẽ thêm gương mặt của một người phụ nữ. Sợ tôi không biết đó là ai, John nói rằng ấy chính là mẹ em. Xong, em đính tờ giấy lên tường và bắt đầu ném đồ về phía đó. Dồn sức lực và tốc độ vào từng lần ném, nhặt nhạnh hết món này đến món khác cho từng cú chọi, cơn cuồng phong đồ vật qua đi để lại John nằm trên sàn đầm đìa nước mắt. Khó khăn lắm mới kìm được xúc động, tôi ngồi xuống kế em và ôm em vào lòng, cố gắng vỗ về em nhưng vẫn đảm bảo đủ không gian để nước mắt và lời nói hòa thành một tiếng thì thầm nho nhỏ khi em nức nở: “Con ghét mẹ, con ghét mẹ…”

Cả hai đã đi đến một khúc ngoặt mới – nhưng trước khi tôi kịp nhận ra, mối liên hệ của chúng tôi đã phải chấm dứt. Không lâu sau buổi trị liệu hôm ấy, tôi nhận thông báo rằng mình được thuyên chuyển về một phòng khám quá xa nhà em. John và tôi chỉ còn vài ngày để tạm biệt dù biết rằng chẳng bao nhiêu là đủ để chuẩn bị cho em trước tổn thương mới mẻ này. Tôi ra đi mà lòng nặng trĩu, sợ rằng mình sẽ trở thành một người lớn khác trong cuộc đời lại bỏ rơi em, một người nữa được tin tưởng cho đến lúc họ buộc phải làm em thất vọng.

Về phần tôi, việc kết thúc sớm và phải nói lời từ biệt là cả một “nỗi ám ảnh” về mặt chuyên môn. Tạm biệt không bao giờ là đơn giản, ngay cả khi thân chủ tiến triển tốt và cho thấy sẵn sàng ra đi. Dù vậy, nhà trị liệu vẫn gặp những thân chủ mới, biết rằng tất cả đều sẽ đến lúc kết thúc. Những năm gắn bó sâu đậm rồi sẽ đều đi đến hồi kết, để lại dấu ấn của mình trong tâm khảm nhà chuyên môn. Nhiều năm sau khi tôi bỏ tơi John, tôi mới nhận ra lời từ biệt thật sự thấm thía đến mức độ nào. Lúc nào, tôi cũng băn khoăn, liệu họ có ổn không? Chị A rồi có được đứa con chị mong muốn không? Anh C rồi có li dị không? Rất rất nhiều những câu chuyện mà tôi chẳng bao giờ biết được kết cục. Rất rất nhiều những khuôn mặt mà tôi chẳng bao giờ được gặp lại.
Gần 30 năm sau, tôi vẫn bị những ký ức về John ám ảnh, một cậu bé trải qua sang chấn đang trong tiến trình thành nhân và rồi tôi chẳng thể biết được cậu ta sẽ lớn lên thành người như thế nào.
Và trước mùa Giáng Sinh năm vừa rồi, điện thoại văn phòng tôi đổ chuông. Lúc đó đã trễ. Thân chủ cuối cùng trong ngày vừa ra về. Tôi phải đấu tranh tư tưởng giữa việc nhấc máy hay để nó lưu vào hộp thư thoại. Dù không nhận ra số gọi đến, tôi vẫn để cho tính tò mò chiến thắng và nhấc máy lên. Những gì xảy ra tiếp theo sẽ đi với tôi đến cuối cuộc đời. Thật vậy, ngay lúc này khi đang viết lại mọi sự, tôi vẫn còn cảm thấy sự ngỡ ngàng, vui mừng, hi vọng và sợ sệt chiếm lấy tôi vào buổi chiều hôm đó. Bên đầu kia vang lên tiếng của một người đàn ông tôi chưa bao giờ trò chuyện, anh ta nói, anh ấy là đứa trẻ mà tôi đã bỏ rơi nhiều năm về trước.

John cho biết anh vừa tìm thấy tên tôi trên một phiếu hẹn cũ kỹ khi anh đang dọn dẹp đồ đạc của người mẹ vừa qua đời. Suốt nhiều năm, anh ta cũng nghĩ đến thời gian chúng tôi cùng làm việc. Bây giờ, khi đang đau buồn vì sự ra đi của mẹ mình cùng những câu hỏi vẫn dang dở về tuổi thơ, anh hi vọng có thể được nói chuyện với tôi một lần nữa.

Buồn bã và tiếc nuối tràn qua trong tôi, sau đó nhường chỗ cho những suy nghĩ và cảm xúc khác xuất hiện và xoay vần: một cảm giác sống lại tuy bối rối nhưng lạc quan, đi kèm là những câu hỏi về hiện tại và con người John đã trở thành. Những câu hỏi này có lẽ vẫn phải chờ một thời gian hay thậm chí là rất lâu để được trả lời, dù lần này không phải là mãi mãi.
Tuần tiếp theo, chúng tôi trở lại cùng nhau làm việc.

Steven Kuchuck là thành viên của Viện Tâm lý Trị liệu Quốc Gia Hoa Kỳ, ông là biên tập viên cuốn sách “Clinical Implications of the Psychoanalyst’s Life Experience: When the Personal Becomes Professional.”

CÁC LOẠI HÓA CHẤT DẪN TRUYỀN THẦN KINH

CÁC LOẠI HÓA CHẤT DẪN TRUYỀN THẦN KINH



Ngày nay,các phát hiện gần đây cho rằng, não bộ của con người sử dụng khoảng 100 chất dẫn truyền thần kinh để điều khiển các hành vi đáp ứng phức tạp và cao cấp của chúng ta. Mặc dù, hiện nay chúng ta chỉ có thể biết chắc chắn được khoảng 50 chất hoạt động như là chất dẫn truyền thần kinh. Chính vì vậy, nhiều nhà khoa học làm việc trong lĩnh vực này đang cố gắng nghiên cứu với mong muốn tìm ra nhiều hơn số lượng các hóa chất dẫn truyền thần kinh.
Để xác định được đâu là các hóa chất dẫn truyền thần kinh tồn tại trong neuron giữa hàng ngàn các phân tử hóa học khác thì các nhà nghiên cứu  đã đưa ra 4 tiêu chuẩn được áp dụng có hệ thống để định dạng các hóa chất dẫn truyền thần kinh. 4 tiêu chuẩn đó được cụ thể như sau:
1.      Hóa chất phải được tổng hợp ở trong neuron hoặc nếu không thì phải hiện diện ở trong đó.
2.      Khi neuron được hoạt hóa, hóa chất này phải được phóng thích và tạo ra một đáp ứng ở một số tế bào đích.
3.      Đáp ứng tương tự phải được thấy khi hóa chất được đặt vào tế bào đích trong thực nghiệm.
4.      Phải có một cơ chế để lấy đi hóa chất này từ vị trí hoạt động của nó sau khi công việc đã được thực hiện.
Một hóa chất người ta nghi ngờ là hóa chất dẫn truyền thần kinh nhưng không hội đủ các tiêu chuẩn trên thì được gọi là chất dẫn truyền giả định.
Dựa vào thành phần của chúng, người ta phân loại hóa chất dẫn truyền thần kinh thành 3 nhóm.
Nhóm 1: Các hóa chất dẫn truyền có phân tử nhỏ bao gồm
 Acetylcholine, Dopamine, Norepinephrine, Epinephrine, Serotonin, Glutamate, Gama- Aminnobutyric ( GABA), Glycine và Histamine.
Nhóm 2: Các hóa chất dẫn truyền dạng peptide bao gồm
Opioids: Enkephaline, Dynorphin; Neurohypophyseals: Vasopressin, Oxytocin; Secretines: Gastric inhibitory peptide, Growth- hormone- releasing peptide; Insulins: Insulin, Insulin growth factors; Gastrins: Gastrin, cholescy stokinin; Somatostatins: Pancreatic polypeptides
Nhóm 3: Các hóa chất dẫn truyền dạng gas
Bao gồm Nitric oxide ( NO) và Carbon monoxide ( CO)
Đại đa số các trường hợp, neuron và chất dẫn truyền chủ yếu của nó có liên quan đến một vài chức năng hành vi nào đó. Các chất dẫn truyền trong hệ thần kinh trung ương có chức năng tổng quát hơn, giúp các sinh vật thực hiện được các nhiệm vụ thường ngày, các chất này là các chất có phân tử nhỏ: Acetylcholine, Dopamine, Norepinephrine, Serotonin. Các neuron chứa các chất dẫn truyền này được gọi là hệ thống hoạt hóa đi lên ( Ascending activating systems).
Có 4 hệ thống hoạt hóa đi lên. Đó là: hệ Cholinergic, hệ Adrenergic, hệ Dopaminergic và hệ Serotonergic. Bốn hệ thống hoạt hóa đi lên này được tổ chức giống như nhau đó là các thân tế bào nhóm lại với nhau trong chỉ ở một số nhân nằm ở thân não hay gần thân não. Ngược lại, các sợi trục của chúng được phân bố rộng rãi đến những vùng khác nhau của não trước, thân não và tủy sống.
Hệ Cholinergic ( Acetylcholine): Acetylcholine là hóa chất dẫn truyền thần kinh đầu tiên được xác định ở hệ thần kinh trung ương. Tất cả các sợi trục của neuron vận động xuất phát từ tủy sống đều chứa Acetylcholine. Hoạt động để duy trì các mẫu thức tỉnh trong điện não của vỏ não. Đóng vai trò trong trí nhớ bằng cách duy trì khả năng kích thích của neuron. Sự chết của các neuron có chứa Acetylcholine được nghĩ như có liên quan đến bệnh Alzheimer.
Hệ Adrenergic ( Noradrenaline): Hoạt động để duy trì trương lực cảm xúc. Giảm lượng Adrenaline được cho là có liên quan đến trầm cảm, ngược lại, tăng Adrenaline được cho là có liên quan đến hưng cảm.
Hệ Dopaminergic (Dopamine): Hoạt động để duy trì các hành vi vận động bình thường. Mất Dopamine liên quan đến bệnh Parkinson, các cơ sẽ trở nên cứng đờ, vận động khó khăn. Gia tăng Dopamine có thể liên quan tới tâm thần phân liệt.
Hệ Serotonergic ( Serotonin): Hoạt động để duy trì các mẫu thức tỉnh của hoạt động điện não. Gia tăng lượng Serotonin có thể liên quan đến rối loạn Tic và tâm thần phân liệt. Giảm Serotonin liên quan đến trầm cảm.

Tóm lại, các neuron truyền thông với nhau bằng cách phóng thích các hóa chất ở đầu tận cùng của chúng. Một đầu tận cùng tạo thành một khớp nối ( Synapse) , bao gồm một màng tiền khớp ( Presynapse) kế là một khoảng không và màng hậu khớp (Postsynapse). Một hóa chất được phóng thích bởi đầu tận cùng thần kinh đi qua khoảng không giữa khớp thần kinh và hoạt hóa màng hậu khớp. Trên màng hậu khớp, các hóa chất hoạt động trên các thụ thể nhằm hoạt hóa hay ức chế hoạt động điện của các neuron này hoặc nhằm thay đổi chức năng của các neuron theo cách khác. Có 4 bước chung trong hoạt động của chất dẫn truyền thần kinh: tổng hợp, phóng thích, hoạt động và tái hấp thu các chất dẫn truyền thần kinh. Các thuốc tác động lên hệ thần kinh có thể ảnh hưởng tới các hoạt động sinh hóa. Vì thế, hiểu được hoạt động của các chất dẫn truyền thần kinh có thể là nguồn nhận định đúng đắn không chỉ là hành vi bình thường mà còn về những cơ chế mà thuốc có thể ảnh hưởng lên hành vi. Cũng vậy, nhiều bệnh lý và các tình trạng của hệ thần kinh có thể có nền tảng từ sự bất thường chức năng của hoá chất dẫn truyền thần kinh. Ví dụ, các hệ thống Acetylcholine, dopamine, norepinephrine và serotonin có vai trò trong các bệnh lý khác nhau của não bộ. Khi hiểu được chức năng của các chất dẫn truyền thần kinh thì việc điều trị chúng cũng trở nên dễ dàng hơn.

Tổng hợp

Thông tin bài đăng này được sử dụng công khai với mục đích tìm hiểu, trao đổi học thuật và không được thương mại hóa. Khi chia sẻ, trích dẫn nội dung bài đăng này xin vui lòng ghi rõ nguồn theo đường dẫn:http://khuvuontamly.blogspot.com/2015/08/cac-loai-hoa-chat-dan-truyen-than-kinh.html Mọi trường hợp khác xin liên hệ Khu Vườn Tâm Lý. Xin cảm ơn!

TỰ TỬ VÀ NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT


TỰ TỬ VÀ NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT


Những người có ý định tự tự có thể không tìm kiếm sự giúp đỡ nhưng điều đó không có nghĩa sự giúp đỡ là không cần thiết. Hầu hết những người tự tử thường không muốn chết – họ chỉ muốn ngừng nỗi đau đớn này lại thôi. Tổ chức y tế thế giới WHO ước tính hằng năm có khoảng một triệu người chết vì tự tử. Đâu là nguyên nhân khiến những người nọ tự kết liễu đời mình? Đối với những người chưa từng trải qua trầm cảm hay tuyệt vọng thì rất khó để họ hiểu được điều này. Nhưng khi một người có xu hướng muốn chết, có nghĩa là họ đang rất đau đớn đến mức chẳng thể nhìn thấy con đường nào khác.
Tự tử là sự cố gắng trong tuyệt vọng để thoát khỏi cơn đau dần trở nên khó có thể chịu đựng được nữa. Bị mù lòa bởi cảm giác ghê tởm chính bản thân mình, vô vọng, cô độc, một người đang có ý định tự tử không thể nhìn thấy bất kỳ lối ra nào cho nỗi đau này ngoại trừ cái chết. Thế nhưng, mặc cho ước vọng muốn cơn đau này dừng lại thì đa số những người muốn tự tử ấy thật sự rất rất rất mâu thuẫn về việc kết thúc cuộc sống của họ. Họ ước gì có cách nào đấy để giải quyết vấn đề ngoại trừ cái chết, nhưng họ lại không thể tìm thấy.
Những quan niệm sai lầm về tự tử:
SAI: Những người nói về tự tử sẽ không thật sự làm.
Gần như mỗi người có ý định hoặc đã thử tự tử thường đưa ra một số gợi ý hoặc cảnh báo. Đừng nên lờ những lời nói đó . Những câu như “Cậu sẽ hối hận khi mình chết rồi”, hoặc “ Mình không nhìn thấy lối ra nào cả.” Dù cho người đó nói theo kiểu đùa giỡn mức nào đi chăng nữa thì nó vẫn có thể ẩn chứa cảm xúc muốn tự tử thật.
SAI: Bất kỳ ai tự kết thúc đời mình đều là kẻ điên.
Hầu hết những người có ý định tự tử không phải bị khùng hay điên gì mà họ đang buồn, đang bị cơn đau hành hạ, trầm uất, hay tuyệt vọng, tuy nhiên cảm xúc đau đớn ấy không hẳn là dấu hiệu của bệnh tâm lý.
SAI: Nếu một người có ý định tự tử thì không có gì có thể ngăn họ lại được.
Dù cho một người có u uất đau đớn đến mức nào thì anh ta vẫn có những cảm xúc phức tạp về cái chết, do dự đến giây phút cuối cùng giữa ý định muốn sống và ước vọng muốn chết. Đa số những người đó không thật sự muốn chết, họ chỉ muốn cơn đau dừng lại mà thôi. Cơn xúc động muốn chấm dứt mọi thứ không kéo dài mãi mãi dù cho có mạnh mẽ đến mức nào đi chăng nữa.
SAI: Những người muốn tự tử là những người không muốn tìm kiếm sự giúp đỡ.
Nghiên cứu về những nạn nhân tự tử cho thấy hơn một nửa số họ đã thử tìm kiếm sự giúp đỡ y tế khoảng sáu tháng trước khi họ chết.
SAI: Nói về tự tử có thể là gợi ý để một người khác tìm đến cái chết.
Ngược lại, nói về chủ đề tự tử và bàn luận nó thoải mái, rộng rãi là một trong những điều tốt nhất mà bạn có thể làm để giúp đỡ họ.
Dấu hiệu tự tử:
Nói về cái chết: Bất kỳ lời nói nào về cái chết, hay tự tổn thương. VD: “Tôi ước gì mình chưa bao giờ được sinh ra…”, “Nếu mình có thể gặp lại cậu lần nữa…”, “Nếu tôi chết đi thì hay biết mấy.”
Tìm kiếm những phương pháp tự tử: Súng, thuốc, dao, hay bất cứ thứ gì có thể dùng để tổn thương.
Ám ảnh với cái chết: Tập trung bất thường vào chết, hay bạo lực. Viết thơ hay truyện liên quan đến cái chết
Không có hy vọng gì vào tương lai: Cảm giác bất lực, vô vọng và tù túng “Không còn cách nào hết”. Tin rằng mọi thứ sẽ không khá hơn hoặc thay đổi.
Chán ghét, ghê tởm với bản thân: Cảm giác vô dụng, tội lỗi, xấu hổ. Cảm giác như mình là gánh nặng. “Mọi người sẽ vui vẻ hơn nếu mình ra đi.”
Chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ: Viết di chúc, cho đi những đồ vật quý giá nhất. Chuẩn bị mọi thứ sẵn cho những thành viên trong gia đình.
Chào tạm biệt: Gọi ,viếng thăm bạn bè hay thân nhân một cách bất ngờ và khác thường. Nói lời chào tạm biệt như thể họ sẽ không gặp lại mình nữa.
Cách ly với những người khác: Cách ly khỏi gia đình và bạn bè, tự cô lập chính mình. Muốn được ở một mình.
Hành vi tổn thương bản thân: Uống nhiều rượu hoặc dùng nhiều thuốc, lái xe ẩu, quan hệ không lành mạnh, vướng vào những quy hiểm không cần thiết.
Bình tĩnh bất ngờ: Đột nhiên bình tĩnh và vui vẻ sau khi bị trầm uất nặng nề cũng có thể là dấu hiệu cho biết họ đã quyết định tự tử
Nếu bạn thấy ai đó có dấu hiệu đã nêu trên thì đừng bao giờ nghĩ rằng họ chỉ đùa vui thôi. Thay vào đó hãy hành động ngay lập tức, bạn có thể cứu sống được một người. Dưới đây là một số phương thức ngăn cản ai đó tự tử.
Phương thức 1: Hãy lên tiếng nếu bạn lo lắng.
Nói chuyện với người thân hay bạn bè về suy nghĩ hay cảm xúc tự tử có thể cực kỳ khó khăn đối với bất kỳ ai. Tuy nhiên nếu bạn không chắc người đó có ý muốn tự tử, cách tốt nhất để biết chính là hỏi thẳng người đó. Bạn không thể làm một người muốn tự tử nếu bạn cho họ biết bằng bạn quan tâm đến họ. Thực tế, cho người có ý định tự tử cơ hội để bày tỏ cảm xúc có thể làm giảm đi sự cô độc và những cảm xúc tiêu cực đang ứ đọng và có thể ngăn ngừa họ tự kết liễu bản thân mình.
Những cách để bắt đầu câu chuyện:
• Dạo này mình thấy hơi lo cho cậu
• Gần đây mình thấy cậu hơi lạ, không biết cậu có ổn không
• Mình chỉ muốn coi cậu như thế nào vì dạo gần đây cậu có vẻ không được ổn cho lắm.
Những câu hỏi mà bạn có thể hỏi:

• Từ khi nào cậu có cảm giác như thế?
• Có chuyện gì xảy ra khiến cậu bắt đầu suy nghĩ như vậy?
• Mình có thể giúp gì cho cậu được bây giờ?
• Cậu có nghĩ tìm ai đó để giúp đỡ hay không?
Những câu bạn nói có thể giúp được người đó

• Cậu không chỉ có một mình đâu. Mình luôn ở cạnh bên cậu nếu cậu cần.
• Bây giờ cậu có thể không tin nhưng cảm xúc của cậu sẽ thay đổi
• Mình có thể không hiểu lắm những gì cậu đang trải qua nhưng mình quan tâm đến cậu và mình muốn giúp cậu.
• Bất khi nào cậu muốn từ bỏ, hãy tự nhủ với bản thân mình rằng hãy chờ một ngày, một giờ, một phút – bất cứ khoảng thời gian nào cậu có thể chờ được.
Khi nói chuyện với người có ý định tự tử:
Nên:
Hãy là chính bạn. Để cho người ấy biết là bạn quan tâm đến họ và họ không chỉ có một mình. Những từ ngữ chính xác thường không quan trọng. Nếu bạn lo, thì lời nói của bạn, thái độ của bạn sẽ thể hiện đó.
Lắng nghe. Để người ấy có thể kể ra hết nỗi niềm, xả hết những nỗi uất ức. Dù cho cuộc nói chuyện có tiêu cực đến đâu thì việc nó xảy ra (cuộc nói chuyện) cũng là một dấu hiệu tích cực.
Thông cảm – KHÔNG PHÁN XÉT, kiên nhẫn, bình tĩnh, CHẤP NHẬN. Bạn bè và người thân của bạn đang nói những gì họ suy nghĩ, và chẳng có gì sai với nó cả.
Đưa ra hy vọng: Khẳng định với người đó rằng luôn có những lối ra và suy nghĩ tự tử chỉ là tạm thời. Để cho cô/ anh ấy biết rằng họ quan trọng đối với bạn.
Nếu một người nào đó nói những thứ như “Mình mệt mỏi quá, u uất quá. Mình không thể nào tiếp tục được nữa.”, hãy hỏi” Cậu có ý định tự tử à?” Bạn không phải đang gợi ý cho người đó mà ngược lại, bạn đang cho họ thấy là bạn quan tâm đến họ, bạn nghiêm túc lắng nghe, và họ có thể mở lòng nói về nỗi đau đó cho bạn.
Không nên: 
Tranh cãi với những người muốn tự tử. Tránh nói những thứ như “Cậu còn nhiều thứ để sống mà, “ “Cậu phải nghĩ cho gia đình chứ, cậu chết thì họ sẽ đau lòng.” Hoặc “ Nghĩ tích cực xíu đi.”
Thái độ sốc, giảng đạo về giá trị cuộc sống hay nói rằng tự tử là sai lầm.
Hứa sẽ giữ bí mật. Không bao giờ thỏa thuận với việc giữ kín chuyện. Một mạng sống đang bị đe dọa và có thể bạn cần phải nói chuyện với chuyên viên tâm lý sức khỏe để có thể giữ người bạn/ người thân đang có ý định tự tử được an toàn.
Đưa ra những cách để giải quyết vấn đề của họ hoặc cho lời khuyên, hoặc làm cho họ cảm thấy như họ phải bảo vệ ý muốn tự tử của họ. Vấn đề ở đây không phải là rắc rối ấy tồi tệ bao nhiêu mà là bạn làm tổn thương họ đến mức nào. Không ai muốn người khác chỉ trích mình, hay dè bĩu nói mình sai. Nếu bạn làm vậy thì chỉ khiến họ càng tìm cách chứng minh rằng suy nghĩ tự tử của họ là đúng mà thôi.
Tự trách bản thân. Bạn không thể sửa đổi nỗi u uất buồn bã của một người. Hạnh phúc hay đau khổ của người mà bạn yêu quý không phải là trách nhiệm của bạn.
Phương thức thứ hai: Hành động nhanh chóng.
Thông báo với gia đình, người thân, hoặc đưa người đó đến phòng cấp cứu. Lấy đi dao, súng hay thuốc nhưng không được để người đó một mình, dù dưới bất kỳ hoàn cảnh nào.
Đề xuất phương thức giúp đỡ và hỗ trợ.
Nếu người thân hay bạn bè của bạn có ý định tự tử, cách tốt nhất để giúp đỡ là lắng nghe và thấu cảm. Để cho họ biết rằng họ không chỉ có một mình và bạn quan tâm đến họ. Đừng coi việc làm cho họ cảm thấy tốt hơn là trách nhiệm của bạn. Bạn có thể hỗ trợ nhưng bạn không thể nào cảm thấy khỏe giùm cho họ được. Anh hay cô ấy phải tự thỏa thuận với chính bản thân mình để hồi phục

Giúp đỡ người có ý định tự tử
• Tìm người có chuyên nghiệp: Gọi đến đường dây nóng chuyện nghiệp hay tìm đến chuyên viên tư vấn tâm lý. Khuyến khích, đưa họ đi khám.
• Theo dõi điều trị: Nếu bác sĩ cho thuốc thì phải chắc rằng họ dùng thuốc, nên biết những tác dụng phụ của thuốc và báo cho bác sĩ biết nếu người thân / bạn bè của bạn không khá hơn mà ngược lại còn tệ đi. Thường thì phải mất một thời gian lâu để thuốc có tác dụng, và khoảng thời gian ấy tùy thuộc vào sinh lý của từng người.
• Khuyến khích lối sống tích cực: như tập thể dục, ăn uống điều độ, ngủ nhiều, ra ngoài ít nhất 30 phút/ ngày. Tập thể dục rất quan trọng, nó giúp tiết chế ra chất endorphin, chất thần kinh giúp bạn cảm thấy yêu đời hơn, giải tỏa stress.
• Tích cực hơn: Đa số những người có ý định tự tử không thật sự tin rằng họ có thể được giúp đỡ, nên có lẽ bạn cần tích cực hơn trong việc đó. Những câu nói như “gọi cho mình nếu cậu cần” quá mơ hồ, thay vào đó thì hãy ghé qua thăm, gọi điện, rủ họ ra ngoài.
• Lấy đi những thứ có thể gây tổn thương.
• Tiếp tục hỗ trợ họ.
Bản thân mình cũng từng có ý định tự tử rất nhiều lần. Lần đầu tiên là vào năm lớp 9 thi lên lớp 10. Thời ấy chỉ có được nộp một trường, rớt ra dân lập học. Mình nộp trường chuyên của tỉnh vì hầu hết mọi người trong gia đình mình đều đã từng học ở đó, nó như dạng truyền thống vậy, thi thiếu một điểm. Thời gian trong lúc đợi hạ điểm cực kỳ khủng khiếp. Mình mất ngủ suốt một tháng trời, mỗi đêm ngủ khoảng 12 giờ đúng 2 giờ sáng, mình lại dậy, ra quỳ bàn thờ tổ tiên suốt mấy tiếng. Cứ như kẻ điên vật vờ. Mẹ thì thất vọng la mắng, ba thì dù cưng mình vẫn mặt nặng với mình vì lên cơ quan bạn bè hỏi thăm chuyện thi cử nên ông mất mặt. Anh mình thì lúc đó không thèm đếm xỉa, cả chị cũng vậy, mình không dám ở nhà, cứ lang thang bên bờ sông. Rồi mình nghĩ đến chuyện tự tử, lúc ấy cảm xúc rất hỗn loạn, muốn cho ba mẹ mình hối hận, muốn chấm dứt sự mệt mỏi này, mình ra hiệu thuốc mua thuốc ngủ. Người bán thuốc hỏi thì mình nói là nhức đầu, cô có vẻ không tin nhưng vẫn bán cho mình mấy vỉ thuốc. Mình nhớ mình ngồi ở quán nước mía, cầm nắm thuốc ngủ trong tay và tự hồi tưởng lại những gì mình đã trải qua. Lúc ấy, mình chỉ nhớ rằng, đi rồi còn quay về được không? Mình có cam không? Có đáng không? Và cuối cùng thì mình đã không uống.
Sau này, dù có tuyệt vọng đến mức nào, dù có đau đớn đến mức nào, dù bao lần mình, trong cơn run bần bật, mồ hôi ướt đẫm tay, cố bấu lấy tay hằn vết máu, ngăn bản thân không nhảy vào dòng xe cộ, dẫu có ở nơi xứ người suốt 6 năm cực nhọc, làm chết bỏ, bị đuổi ra đuổi vào vẫn cố bám để kiếm tiền đi học, mỗi lần muốn tự tử mình lại nhớ đến nắm thuốc ấy, nhớ đến những câu hỏi ấy và tự nhủ, “không sao đâu, mình sẽ ổn thôi.” Và mình vẫn lê lết đến bây giờ.
Mình từng nghe một người, sống sót qua những lần tự tử và bây giờ là chuyên viên sức khỏe nói ở TED, “Khi bạn có ý nghĩ tự tử, tư duy suy nghĩ của bạn bị bóp méo đến mức bạn chỉ có thể nhìn thấy cái chết là lối ra duy nhất. Bạn đang nghĩ đến chuyện tự tử, tốt, hãy tiếp tục nghĩ về nó, bắt đầu nói về nó và nếu được, hãy làm gì với nó. Còn với những người chuẩn bị tự tử, hãy tin tôi, vẫn còn hy vọng đâu đó ở đây. Bạn không chỉ có một mình.”
Gửi đến các bạn, một câu nói mà cô đồng nghiệp đã nói với mình khi mình kể lại câu chuyện trên, “Tự tử là phương pháp vĩnh viễn cho những vấn đề tạm thời.” (Death is a permanent solution for temporary problems). Những vấn đề tạm thời ấy có lẽ sẽ biến mất, có lẽ phai dần theo thời gian, nhưng nếu bạn chọn giải pháp vĩnh viễn ấy thì bạn sẽ không thể nào quay lại được nữa.



CHÂN DUNG CÁC NHÀ TÂM LÝ: CARL ROGER

CHÂN DUNG CÁC NHÀ TÂM LÝ
KỲ 1: CARL ROGER

Carl Rogers (8/1/1902- 4/2/1987) là một nhà tâm lý học  người Mỹ, ông đã có rất nhiều đóng góp và thành tựu cho khoa học Tâm lý học. Ông cũng chính là một trong những người đặt nền móng cho Tâm lý học nhân văn. Rogers được xem là một trong sáu nhà tâm lý học kiệt xuất nhất của thế kỷ 20, và được xếp thứ hai sau Sigmund Freud. Năm 1956 ông được Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ trao giải Cống hiến Khoa học Nổi bật (Distinguished Scientific Contributions). Và tiếp tục nhận giải Người có cống hiến nổi bật về Tâm lý học (Distinguished Professional Contributions to Psychology) năm 1972. 

Rogers cho rằng: con người có thể cần được hiểu dựa theo cách nhìn nhận bản thân về thế giới xung quanh mình- góc tiếp cận hiện tượng học. Ông cũng luôn cố gắng kết hợp giữa các linh cảm lâm sàng và nghiên cứu khách quan của mình. Có thể nói, cống hiến lớn gắn liền với tên tuổi của ông chính là học thuyết “Thân chủ trọng tâm”. Ông cho rằng, bản chất của con người là tích cực nhằm hiện thực hóa bản thân, trưởng thành và xã hội hóa. Con người có thể hiểu rõ cuộc sống và bản thân mình, lựa chọn sống theo sở thích và cũng có trách nhiệm trong việc giải quyết các khó khăn mà họ gặp phải trong cuộc sống, do vậy, nhà tham vấn, nhà trị liệu cần xem mình là một người bạn đồng hành, tạo điều kiện thuận lợi giúp thân chủ nhận thức bản thân để vươn tới lý tưởng mà mình ấp ủ. Trong trị liệu thân chủ trọng tâm, đầu tiên, Rogers nhấn mạnh tới việc sử dụng kỹ năng phản chiếu cảm xúc của nhà trị liệu, thứ hai là từ không định hướng hoạt động trị liệu, đặt trọng tâm lên thân chủ, quan tâm tất cả những gì của thân chủ, và điều cuối là bầu không khí trị liệu, gồm 3 mấu chốt đó là: hợp lý và thành thật, quan tâm tích cực vô điều kiện, thấu cảm.

Thông tin bài đăng này được sử dụng công khai với mục đích tìm hiểu, trao đổi học thuật và không được thương mại hóa. Khi chia sẻ, trích dẫn nội dung bài đăng này xin vui lòng ghi rõ nguồn theo đường dẫn:http://khuvuontamly.blogspot.com/2015/08/chan-dung-cac-nha-tam-ly-carl-roger.html Mọi trường hợp khác xin liên hệ Khu Vườn Tâm Lý. Xin cảm ơn!

NHỮNG ĐIỀU BẠN NÊN BIẾT KHI PHỎNG VẤN TUYỂN DỤNG


NHỮNG ĐIỀU BẠN NÊN BIẾT 

KHI PHỎNG VẤN TUYỂN DỤNG




Thông tin bài đăng này được sử dụng công khai với mục đích tìm hiểu, trao đổi học thuật và không được thương mại hóa. Khi chia sẻ, trích dẫn nội dung bài đăng này xin vui lòng ghi rõ nguồn theo đường dẫn:http://khuvuontamly.blogspot.com/2015/08/nhung-ieu-ban-nen-biet-khi-phong-van.htmlMọi trường hợp khác xin liên hệ Khu Vườn Tâm Lý. Xin cảm ơn!



NHỮNG VẾT ĐINH


NHỮNG VẾT ĐINH

Một cậu bé nọ có tính xấu là rất hay nổi nóng. Một hôm, cha cậu bé đưa cho cậu một túi đinh rồi nói với cậu: “Mỗi khi con nổi nóng với ai đó thì hãy chạy ra sau nhà và đóng một cái đinh lên chiếc hàng rào gỗ.”

Ngày đầu tiên, cậu bé đã đóng tất cả 37 cái đinh lên hàng rào. Nhưng sau vài tuần, cậu bé đã tập kiềm chế cơn giận của mình và số lượng đinh cậu đóng trên lên hàng rào ngày một ít đi. Cậu nhận thấy rằng kiềm chế cơn giận của mình còn dễ hơn là phải đi đóng một cây đinh lên hàng rào.

Đến một ngày, cậu đã không nổi giận một lần nào suốt cả ngày. Cậu đến thưa với cha và ông bảo: “Tốt lắm, bây giờ nếu sau mỗi ngày mà con không hề nổi giận với ai dù chỉ một lần, con hãy nhổ một cây đinh ra khỏi hàng rào.”

Ngày lại ngày trôi qua, rồi cũng đến một hôm cậu bé đã vui mừng hãnh diện tìm cha mình báo rằng đã không còn một cái đinh nào trên hàng rào nữa. Cha cậu liền đến bên hàng rào. Ở đó, ông nhỏ nhẹ nói với cậu: “Con đã làm rất tốt, nhưng con hãy nhìn những lỗ đinh còn để lại trên hàng rào. Hàng rào đã không giống như xưa nữa rồi. Nếu con nói điều gì trong cơn giận dữ, những lời nói ấy cũng giống như những lỗ đinh này, chúng để lại những vết thương rất khó lành trong lòng người khác. Cho dù sau đó con có nói xin lỗi bao nhiêu lần đi nữa, vết thương đó vẫn còn lại mãi mãi. Con hãy luôn nhớ: vết thương tinh thần còn đau đớn hơn cả những vết thương thể xác. Những người xung quanh ta, bạn bè ta là những viên đá quý. Họ giúp con cười và giúp con mọi chuyện. Họ nghe con than thở khi con gặp khó khăn, cổ vũ con và luôn sẵn sàng mở trái tim mình ra cho con. Hãy nhớ lấy lời cha...”

Thông tin bài đăng này được sử dụng công khai với mục đích tìm hiểu, trao đổi học thuật và không được thương mại hóa. Khi chia sẻ, trích dẫn nội dung bài đăng này xin vui lòng ghi rõ nguồn theo đường dẫn:http://khuvuontamly.blogspot.com/2015/08/nhung-vet-inh.html . Mọi trường hợp khác xin liên hệ Khu Vườn Tâm Lý. Xin cảm ơn!




" LÀM MÁT" TRONG NGÔN NGỮ CƠ THỂ

“ LÀM MÁT ” TRONG NGÔN NGỮ CƠ THỂ


Khoảng ba mươi lăm năm trước, khi tôi lần đầu tiên bước vào công việc hành pháp, tôi bắt đầu nhận thấy rằng những nghi phạm thường làm cho bản thân những hành vi để mát mẻ và thông thoáng hơn trong các cuộc phỏng vấn, trong khi những người vô tội thì không làm vậy. Điều này giúp tôi rất nhiều, không phải giúp tôi trong việc phát hiện có sự lừa dối hay không,  mà đúng hơn, là giúp cho tôi quan sát được những câu hỏi nào làm cho các nghi phạm  cảm thấy không thoải mái. Chẳng hạn như tôi hỏi một câu: “Bạn đã ở đâu vào đêm qua?”. Tôi sử dụng nó để đánh giá tâm lý người đó là thoải mái hay khó chịu- nó rất có giá trị trong việc xác định những suy nghĩ và cảm xúc của người khác.

Tại lúc này đây, bạn có thể hỏi tôi rằng: tìm kiếm sự mát mẻ ư? Chúng ta không thể làm đó khi chúng ta đang nóng hay sao?” Câu trả lời là có. Sự thật là chúng ta có thể làm điều đó. Nhưng phần lớn, chúng ta làm như vậy khi một vài điều gì đó làm phiền chúng ta hoặc là có một vấn đề nào đó đã xảy ra. Một chàng trai trẻ đang lo lắng rằng anh ta sẽ bỏ lỡ chuyến bay của mình và anh ta sẽ liên tục nhấc chiếc mũ của mình ra rồi chạy những ngón tay trên mái tóc của mình. Nhưng khi anh ta đã lên được chuyến bay, giống như những lần khác, thì những hành vi đó sẽ dừng lại.

Vì vậy, cho phép tôi được gạt yếu tố nhiệt độ sang một bên. Vậy thì, điều gì lại khiến chúng ta phải làm cho bản thân được mát mẻ, thông thoáng hơn? Danh sách này sẽ rất dài như: bất an, lưỡng lự hay do dự, sợ hãi, e ngại, một cảm giác của sự yếu đuối, dễ bị tổn thương, hoặc lo âu- đây là tất cả những thứ gây ra tâm lý khó chịu, không thoải mái. Do đó, nó không có vấn đề gì khi mà chúng ta tham gia một bài kiểm tra kiến thức trong trường học hay trả lời câu hỏi trong một cuộc phỏng vấn xin việc.  Việc làm mát bản thân có thể xuất hiện, đặc biệt là lúc chúng ta cảm thấy có sự bất ổn về mặt tâm lý.

Vì vậy, đây là một số gợi ý để bạn có thể tìm kiếm vào bất cứ khi nào bạn nhìn thấy ở họ. Lúc này, bạn hãy tự hỏi mình: “ Những hành vi làm mát của người đó có phải là do nhiệt độ trong phòng hoặc là có một số vấn đề ở đây?”

    1. Tìm kiếm các cá nhân để cho những  ngón tay của họ luồn vào các khe mái tóc của mình (chạy những ngón tay trên mái tóc). Đối với phụ nữ, việc tình cờ là ít hơn để họ có thể làm những hành động như vậy.
       2. Những người đội mũ sẽ nhấc hoàn toàn chiếc mũ họ đang đội ra khỏi đầu hoặc đội vào nhưng để nhếch lên cho không khí đi vào trong mái tóc. Đôi khi cũng theo sau bằng hành động luồn các ngón tay qua tóc của họ.
    3.   Phụ nữ làm mát hơi khác so với nam giới khi họ thực hiện trên mái tóc. Nếu họ có mái tóc dài ngang cổ thì họ sẽ hất tóc ở sau gáy lên- họ làm như vậy để cho không khí lan tỏa màm mát cổ của họ.
    4.    Hãy tìm các cá nhân bị căng thẳng, họ kéo những chiếc nút áo mà học đang mặc lên, xốc và giũ chiếc áo mình đang mặc bằng cách nhấc nó lên khỏi da. Điều này có thể lặp đi lặp lại bằng cách đưa hai hay lên vùng vai áo và kéo lên cùng lúc. Họ làm như vậy để không khí lưu thông bên dưới tấm vải để làm mát da của họ.
    5.  Kéo ở cổ áo sơ mi cũng thường được bỏ qua khi nó thực hiện từ từ và không lộ liễu quá đáng để không thu hút sự chú ý của người khác.
    6.    Tôi cũng đã thấy có những cá nhân nhấc chiếc áo lên, đầy quần họ xuống một chút rồi lại đặt chiếc áo trở lại như ban đầu, đó cũng là một cố gắng để thông gió.
    7.   Việc này có thể trông không giống như việc làm mát, khi mà họ nhờ những người khác để giúp họ nâng nhưng lớp áo của họ ra khỏi phần da trên vai. Hành động này nhằm tìm cách cho không khí đi và bên trong khi mà họ không thể làm vì số lượng và khối lượng đồ họ đang mặc.
    8.     Một điều bạn có thể không bao giờ suy nghĩ đến trong việc làm mát, đó là khi chúng ta ngáp. Lúc đó, không khí sẽ vào miệng và tiếp xúc với các mạch máu trong miệng, nó được thực hiện theo cơ chế giống bộ tản nhiệt. Khi bạn thấy một đứa bé ngáp liên tục thì hãy kiểm tra xem có phải nó đang đỏ mặt hay nhiệt độ trên khuôn mặt của nó nóng. Đứa trẻ ngáp như vậy có thể truyền tải là nó đang nóng và chúng ta có thể giao tiếp được với sự mệt mỏi của đứa trẻ đó.

Có thể bạn đang có một vài hành vi làm mát, thoáng khí. Bạn không bao giờ nghĩ về điều đó nhưng chúng ta đã làm tất cả những điều đó để giải tỏa chúng ta khỏi cái nóng, nhưng quan trọng hơn là để giảm bớt những căng thẳng.

Được viết dựa trên chia sẻ của Joe Navarro. Ông là một nhân viên cũ của FBI làm việc trong mảng chống lừa đảo, tình báo, thẩm vấn và đọc vị người khác. Ông là tác giả của cuốn sách: “ What every body is saying”. Ngoài ra, ông còn là chuyên gia về truyền thông phi ngôn ngữ và ngôn ngữ cơ thể.
Thông tin bài đăng này được sử dụng công khai với mục đích tìm hiểu, trao đổi học thuật và không được thương mại hóa. Khi chia sẻ, trích dẫn nội dung bài đăng này xin vui lòng ghi rõ nguồn theo đường dẫn: http://khuvuontamly.blogspot.com/2015/08/lam-mat-trong-ngon-ngu-co-the.html. Mọi trường hợp khác xin liên hệ Khu Vườn Tâm Lý. Xin cảm ơn!